ẢNH DỰ THI NHIẾP ẢNH
 
Thư viện tài liệu
 
LIÊN KẾT WEBSITE








 
Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday97
mod_vvisit_counterYesterday53
mod_vvisit_counterThis week150
mod_vvisit_counterThis month855
mod_vvisit_counterAll8528
 
 
THÔNG TIN LIÊN HỆ LỚP

Email lớp:
lop97lytutrong@gmail.com

GIẢI ĐÁP TRỰC TUYẾN


Bài thuyết minh về nghề điện PDF. In Email

BÀI THUYẾT MINH VỀ NGHỀ ĐIỆN

I/ Tầm quan trọng của nghề điện:

Điện năng là một trong những động lực chính để gia tăng sức sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, là huyết mạch của nền kinh tế hiện đại. Điện khí hoá đã đóng góp một phần lớn vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm thay đổi cường độ sử dụng năng lượng trên toàn thế giới.

Trong thế kỷ 21 này, điện còn có vai trò lớn hơn rất nhiều, nó sẽ là năng lượng cho nền kinh tế số hoá, thông qua các electron “thông minh” và chính xác. Các phát minh về lĩnh vực điện đang là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá. Hệ thống mạng thông tin theo thời gian phục vụ đắc lực cho ngành truyền thông, tài chính và thương mại. Phát minh về điện, từ  những kỹ thuật laser cho đến các kỹ thuật vi xử lý, sẽ là những động lực để nâng cao năng suất và hiệu suất của các ngành công nghiệp, đồng thời, chính hiệu suất cũng là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững.

Giải quyết độ tin cậy trong cung cấp điện, bằng việc nâng cao năng lực của cơ sở hạ tầng cung cấp điện, nhằm đáp ứng nhu cầu của giao dịch cạnh tranh và công suất truyền tải, đồng thời nâng cao chất lượng để đáp ứng những yêu cầu về độ chính xác của công nghệ kỹ thuật số. Cần phải có các công nghệ mới để kiểm soát dòng điện một cách chính xác trên phạm vi châu lục, đáp ứng được yêu cầu chưa từng có về độ tin cậy và chất lượng điện năng của các ngành công nghệ cao. Theo dự báo, nhu cầu điện với chất lượng dùng cho công nghệ số hoá có thể chiếm tới 50% nhu cầu tiêu thụ điện ở các nước OECD trong năm 2020.

- Thúc đẩy một cuộc cách mạng về các dịch vụ mà trong đó khai thác công dụng của các electron nhằm cung cấp các giao dịch dựa trên năng lượng và viễn thông. Quá trình hợp nhất dần cơ sở hạ tầng của điện lực và viễn thông sẽ mở cửa cho một cuộc cách mạng về các dịch vụ mà có thể đáp ứng nhu cầu đến từng người.

- Làm tăng sức sản xuất và sự thịnh vượng của nền kinh tế bằng việc thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ điện tử mới cho các ngành chế tạo, nông nghiệp, vận tải và khu vực dịch vụ. Các công nghệ điện tử cùng với sự đột phá về tốc độ xử lý thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ làm tăng tốc độ sức sản xuất, ít nhất gấp 2 lần trở lại đây. Điều này sẽ hỗ trợ cho việc sản xuất ra của cải cần thiết để đáp ứng nhu cầu của một xã hội ngày càng già đi và phát triển các kiến thức và công cụ để bảo vệ môi trường.

- Giải quyết mâu thuẫn giữa năng lượng và môi trường bằng việc xử lý một cách hiệu quả và kinh tế các vấn đề về không khí, đất, chất lượng nước cùng với năng lượng, bao hàm cả việc đáp ứng đòi hỏi kỹ thuật của việc kiểm soát sự phát thải khí nhà kính. Trong hơn 100 năm qua, công nghệ khử cácbon của hệ thống năng lượng toàn cầu đã đạt được nhiều tiến bộ, mặc dù vậy, vẫn không đáp ứng được sự gia tăng dân số toàn cầu. Để giữ cho mức CO2 trong khí quyển ở mức nhỏ hơn 2 lần so với thời kỳ tiền công nghiệp, thế giới cần phải phát triển một cơ cấu sản xuất và sử dụng điện đảm bảo sạch, hiệu quả và khả thi đề tài chính. Việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu triển khai trong những năm sắp tới để đạt được một cấu trúc như trên sẽ tiết kiệm được các chi phí kiểm soát môi trường lớn hơn những năm sau.

- Đạt được sự phát triển bền vững toàn cầu, đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới ngày càng gia tăng về của cải vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống do điện khí hoá mang lại.


Các quốc gia trên thế giới đều coi điện như là chìa khoá để tăng tốc phát triển nền kinh tế và chất lượng cuộc sống. Điện là năng lượng cho nền kinh tế số hoá và sẽ đóng vai trò trung tâm ngày càng cao trong việc giảm sự phụ thuộc của phát triển kinh tế vào việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và giảm các tác động không tốt đến môi trường.

Hầu hết các hoạt động trong sản xuất và đời sống đều gắn với việc sử dụng điện năng. Vì vậy, cần rất nhiều người để làm các công việc trong nghề điện dân dụng. Nghề điện dân dụng rất đa dạng, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sử dụng điện năng phục vụ cho đời sống, sinh hoạt và lao động sản xuất của các hộ tiêu thụ điện.

Người thợ điện có mặt hầu hết ở các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, công trường,… để làm các công việc về điện. Nghề điện nói chung, nghề điện dân dụng nói riêng góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

II/ Giới thiệu một số cơ sở đào tạo nghề điện tỉnh Quảng Nam nói riêng, ở Việt Nam nói chung:



Trường Cao đẳng điện lực miền Trung-Quảng Nam

D:đa dạngqn2-27082.jpg

Trường Cao đẳng kinh tế-kĩ thuật Quảng Nam



Trường dạy nghề tỉnh Quảng Nam


Trường Đại học điện lực TP Hồ Chí Minh

Trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng

III/ Học sinh cần làm gì để chọn nghề sau khi tốt nghiệp THCS:

Tục ngữ có câu “Bạc vạn cho vay không bằng trong tay có nghề.” Ấy vậy ta mới nhận thấy được vai trò của nghề nghiệp đối với mỗi con người chúng ta. Nếu có được cho mình một công việc ổn định, ta không những tự nuôi sống bản thân, gia đình mà còn góp phần phát triển xã hội, đất nước. Vì vậy, vấn đề cần đặt ra bây giờ là cần phải tự định hướng được nghề, vạch ra kế hoạch rõ ràng và thực hiện nó. Điều đó ắt hẳn không đơn giản bởi đó là cả một quá trình dài. Thử  đặt ra cho bạn những câu
hỏi: Bạn chọn nghề gì? Liệu bạn có đủ điều kiện theo đuổi nghề đó không? Bạn có yêu nghề đó và mãi mãi gắn bó với nó không? v.v… Những câu hỏi như vậy không dễ trả lời.Hiện tại, dẫu rằng bạn đang còn ngồi trên ghế nhà trường, còn được ở trong vòng tay yêu thương, chở che của người thân, gia đình. Nhưng rồi, một ngày nào đó không xa, bạn sẽ trưởng thành,  phải tự học cách tập những thắc mắc về việc chọn nghề cũng khiến cho bạn phải đau cả đầu. Nhiều bạn sẽ thờ ơ tránh né:” Lo gì, cuối nămrồi tính, còn sớm chán”, hay là “Việc này để ba mẹ lo, mình còn nhỏ,
chả việc gì phải suy tính cho nhọc thân.” Xin thưa, những suy nghĩ đó là hoàn toàn sai. Ngay từ bây giờ, nếu không biết xác định kịp thời,không đưa ra được phương hướng mục tiêu thì bạn đang tự đẩy đời mìnhvào bế tắc đấy. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Liệu rằng bạn có muốn mình trở thành một kẻ lang thang,  đi lông bông ngoài phố? Haylà một người thất nghiệp? Hay là một kẻ chọn sai nghề, không đúng với nguyện vọng, rồi nhanh chóng bỏ cuộc? Chắc chắn câu trả lời của bạn là không. Ai cũng muốn có cho mình một công việc ổn định, phù hợp với bản thân, đem lại nguồn thu nhập cho bản thân cả. Vì thế nên yêu cầu cấpbách là hãy  thử đặt bút, động não, phân tích và khám phá bản thân, để xác định hướng đi phù hợp cho mình. Chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI- một thế kỉ có thể nói là nền công nghệ, khoa học hiện đại phát triển như vũ bão . Kéo theo đó, ngày nay,nghề nghiệp trong xã hội có những chuyển biến nhiều so với những giaiđoạn trước đây. Sự đa dạng  hóa trong nghề  nghiệp giúp cho chúng tacó nhiều lựa chọn hơn. Một điều quan trong phải nhắc tới đó chính là cuộc cách mạng khoa học. Đó là nềnkinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng trithức, thông tin, trong đó máy tính và các công nghệ truyền thông, viễnthông là những yếu tố tạo ra lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. Nếu con người không chiếm lĩnh được tri thức, không sáng tạo và sử dụng đượcthông tin trong các ngành sản xuất, dịch vụ thì không thể làm ăn đượctrong sự cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.


Muốn có một cuộc sống tương lai rạng ngời, cuộc sống ổn định, mỗingười chúng ta cần có trong tay  một nghề Ông bà ta từng nói : “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.”  Chúng tacũng đừng quá ham hố trước sự đa dạng của số ngành nghề mà hãy lựa chomình một công việc thích hợp .Bạn phải có đam mê, mãi gan dạ, bản lĩnh
để có thể chiếm được thế thượng phong trong công việc.  Để lựa chọn được nghề hợp lí, phải căn cứ vào  trình độ, năng lực, điều kiện của bảnthân, từ đó khai thác chuyên sâu lĩnh vực nghề nghiệp mà mình theođuổi để đảm bảo tốt  được mình sẽ hoàn thành công việc, đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, bạn hãy thử tham gia các hoạt động, tìm sự tư vấn của thầy cô giáo hoặc những người lớn tuổi để tìm ra được lời khuyên thật hợp lí. Chọn nghề không hề đơn giản mà đó là bạn chọn cho mình một con đường, một tương lai. Liệu tương lai đó có tươi sáng hay đen tối đều phụ thuộc vào chính bản thân bạn. Đất nước ta hiện nay đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rất cần phải có những người có lòng say mê, nhiệt tình với côngviệc mà mình lựa chọn. Bác Hồ đã từng nói: “Trong xã hội ta, không kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấuhổ.... Tất cả những lao động có ích cho xã hội đều là vẻ vang.” Vìvậy, dù nghề nào đi chăng nữa cũng quý, cũng trọng, không có gì đáng xấu hổ. Đặc biệt là thực trạng “thừa thầy, thiếu thợ” như hiện nay thì những người “thợ” càng trở nên cần thiết. Đảng và Nhà nước ta đang rất chủ trương đầu tư cho việc dạy nghề, đào tạo những người thợ giỏi, có kĩ năng làm việc và tinh thần trách nhiệm cao, có lòng say mê với côngviệc của mình. Đó chính là một đường lối mới cần được phát huy hiện nay. Và phải chăng, đó cũng chính là một cánh cửa khác để chúng ta lựachọn?! Tốt nghiệp Trung học cơ sở xong, nếu bạn không có năng lực,trình độ để học tiếp lên Trung học phổ thông thì việc học nghề cũng là một lựa chọn đúng đắn. Còn nếu bạn đủ sức thì hãy tiếp tục con đường học tập, tiến thẳng lên Đại học, thậm chí là Cao học và thực hiện những gì bạn đã lựa chọn.

Học nghề cũng là một lựa chọn đúng đắn

Nói thế nào đi chăng nữa, để thực hiện được công việc đã chọn, trướchết, mỗi chúng ta đều phải luôn học hỏi, không ngừng rèn luyện , nâng cao trình độ của chính mình. Không những chúng ta học cho bản thân,cho tương lai của chính mình, mà còn học để góp phần xây dựng quêhương ngày một giàu đẹp hơn. Điều này đã được minh chứng trong lời dặn dò của Bác Hồ với thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công họctập của các em.” Nói tóm lại, ngưỡng cửa đường đời đang mở ra trước mắt. Tương lai tươi sáng đang chờ bạn đem chìa khóa đến và đón nhận thành công rạng rỡ. Hãy dũng cảm chọn cho mình một nghề nghiệp thật phù hợp với bản thân.Mong rằng mọi điều may mắn sẽ tới với bạn. Những khi gục ngã,bạn hãy nhớ rằng: “Thất bại là mẹ thành công”, bạn nhé!


 
KỈ NIỆM QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3 PDF. In Email
Ngày 7/3 trường THCS Lý Tự Trong tổ chức sinh hoạt  kỉ niệm 106 năm ngày quốc tế phụ nữ 8/3 dưới cờ rất ý nghĩa và thu hút sự tham gia nhiệt tình từ giáo viên và học sinh bằng các hoạt động tuyên truyền và các trò chơi bổ ích


 
Phong tục truyền thống ngày tết PDF. In Email
Trồng cây nêu đã trở thành tục lệ Tết phổ biến của các dân tộc Việt Nam: từ Kinh, Thái, Mường đến Ba Na, Gia Rai...
CÂY NÊU NGÀY TẾT
T
rồng cây nêu đã trở thành tục lệ Tết phổ biến của các dân tộc Việt Nam: từ Kinh, Thái, Mường đến Ba Na, Gia Rai... Trên ngọn nêu, người ta thường treo một túm lá dứa, lông gà, cành đa, lá thiên tuế, những chiếc khánh và con cá bằng đất nung, cùng một tán tròn bằng tre nứa dán giấy đỏ.
Ngoài ra có nơi còn treo những chiếc đèn lồng, đèn xếp hoặc vài xấp tiền, vàng mã... Dù với dụng ý khác nhau, nhưng những vật treo đều tượng trưng cho mong muốn bảo vệ con người, tạo lập hạnh phúc cho con người. Ví như lá dứa để dọa ma quỷ (vì ma quỷ sợ gai), không cho chúng vào quấy phá.
Cái khánh đồng âm với “khánh” có nghĩa là “phúc”: năm mới đem lại hạnh phúc cho gia đình. Cành đa tượng trưng cho điều lành và tuổi thọ. Tiền vàng mã để cầu tài, cầu lộc. Lông gà là biểu tượng chim thần (một sức mạnh thiên nhiên giúp người).
Đặc biệt, cây nêu còn coi là cây vũ trụ - nối liền Đất với Trời. Tán tròn bằng giấy đỏ tượng trưng cho Mặt Trời và ngọn nêu là nơi chim thần (sứ giả của Mặt Trời) đậu. Cuối năm (cuối mùa đông) mới trồng cây nêu để đầu năm ngọn nêu vươn lên đón ánh nắng xuân, sức sống xuân.

Nghi thức thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam
Nghi thức thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam được coi là độc đáo, trở thành hệ thống và có ý nghĩa riêng của nó. Khởi đầu những ngôi mộ trong hang động ở vùng trung du Bắc Bộ có những vật dụng đem theo cho người chết với sự tin tưởng người chết vẫn sống ở thế giới vĩnh hằng. Con người, ông bà, tổ tiên mình có thể thành Tiên, thành thần, thành thánh, thành Phật.
Chính vì vậy, người ta lập bàn thờ, nhà thờ một cách trang trọng. Khi cúng tế, người ta luôn cầu ân đức, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu. Không chỉ ngày giỗ, ngày Tết mà còn có những dịp trong đại của con người như đám cưới, đám tang hay khi gặp hoạn nạn, làm ăn, đều khấn vái, kính cáo Tổ tiên.
Các nhà nho trước đây cho rằng thờ cúng tổ tiên chỉ để thể hiện chữ hiếu, với tinh thần chim có tổ, người có tông, uống nước nhớ nguồn.

Ngày nay, mọi gia đình người Việt Nam đều thờ tổ tiên và hầu hết đều có bàn thờ gia tiên, đó chính là quốc đạo, lấy con người làm chủ vạn vật, coi trọng âm đức, cái đức thiêng liêng của con người./.


Những ngày giáp Tết, vùng Quảng Nam - Đà Nẵng thường thấy xuất hiện các loại bánh tét, bánh tổ, bánh nổ, bánh in - bốn loại bánh chủ lực trong những ngày đầu năm mới ở xứ Quảng.

Bốn loại bánh này hầu như không nhà nào ở vùng quê Quảng Nam - Đà Nẵng không làm vào dịp Tết. Gặp gỡ nhân ngày đầu năm, trao đổi, chuyện trò công việc đồng áng, mùa màng..., chủ nhà thường mời khách bát nước chè xanh hoặc bát nước lá gối (vối) cùng với các loại bánh trên.

Các cụ cũng luận bàn may mắn, hên xui dựa trên các loại bánh đó. Cứ theo quan niệm dân gian, bánh tét vàng được xem là không tốt cho nhiều việc trong năm, còn bánh trắng, đẹp báo hiệu cho nhiều điều may mắn suốt cả năm mới. Còn với các loại bánh khô nếu cứng mà không xốp, đường không kéo thành sợi như tơ được xem là chưa đạt kỹ thuật làm bánh. Chính vì vậy, việc chuẩn bị gói bánh tét hay làm bánh tổ, bánh nổ, bánh in và các loại bánh khác là hết sức quan trọng.

Bánh tét

Bánh tét ciên ăn với củ kiệu

Bánh tét chiên ăn với củ kiệu

Để có một đòn bánh tét "đạt tiêu chuẩn" không phải dễ. Nếp dùng làm bánh phải được chọn lựa kỹ, ngâm nước vừa đủ sao cho khi nấu chín, tét ra từng lát không thấy lợm cợm những hạt gạo lẫn vào nếp, bánh không quá dính cũng không quá rời.

Gói bánh phải chú ý sao cho nhân đậu nằm ngay ở giữa và tròn đều để khi tét ra, lát bánh là một vòng tròn lớn có màu xanh của nếp chín bao bọc chung quanh một vòng tròn đậu xanh màu vàng mỡ. Lại phải chú ý đến khâu nấu, sao cho bánh không ngả vàng mà có màu xanh nhạt.

Và cuối cùng là tét bánh thành từng lát bằng một sợi dây nhợ (nay dùng dây cước) - chính sợi dây này sẽ góp phần làm cho lát bánh trơn láng, đẹp mắt. Ngày xưa, các cô, các bà trước Tết phải kiếm cho được một nhánh lá gai, vài lá thơm tước lấy chỉ làm dây nhợ để dành tét bánh.

Có người gọi bánh tét là bánh chưng tròn, chính vì sự tương đồng gần như hoàn toàn về chất liệu giữa hai thứ bánh này, chỉ khác ở chỗ: tỷ lệ thịt mỡ trong nhân và tỷ lệ nhân so với nếp ở bánh tét ít hơn bánh chưng. Song ngày trước nhân bánh tét thường chỉ là mè rắc vào giữa bánh. Mè được rang chín, bóc vỏ sạch, trộn với muối khi gói bánh để bánh được sánh và đậm đà hơn.

Riêng ở vùng Đại Lộc, nhân bánh tét còn làm bằng đậu xanh đãi vỏ, hong chín, có thêm một ít muối ăn và tiêu nhưng hoàn toàn không có mỡ, được gói bằng lá chuối sứ nên rất thơm ngon và giữ được lâu ngày. Những nhà giàu có thường làm vài ang nếp để gói bánh tét, bánh để lâu ngày đem chiên giòn, ăn nửa buổi khi đi làm đồng áng. Có gia đình dùng đến tháng hai mới hết bánh tét.

Bánh tét thường phải có dưa món  ăn kèm. Nếu các tỉnh phía Bắc có dưa hành thì đến vùng Quảng Nam, ngoài dưa hành có thêm củ kiệu, đu đủ, củ cà rốt trong lọ dưa món, tất nhiên có cả ớt; thêm nhiều màu sắc, hương vị phong phú. Tên gọi dưa món cũng không ngoài ý nghĩa ấy: phong phú, đa dạng, nhiều món.

Bánh tổ

Bánh tổ

Bánh tổ

Loại bánh mang đậm hồn quê này có thể ra đời từ thời Lê Thánh Tôn. Khi đó, những người từ miền Bắc di cư vào vùng đất mới Quảng Nam nhớ về quê cha đất tổ, nên vào dịp Tết, họ làm một loại bánh bằng chất liệu sẵn có tại địa phương dâng cúng tổ tiên, tạ ơn trời đất đã được bình yên sau một năm cày sâu cuốc bẫm trên những cánh đồng vừa mới khai phá không lâu.

Bánh tổ, có nơi gọi là bánh ổ, được làm từ đường đen và nếp hương. Đường đen là loại đường bát, cứng, sản xuất từ các lò đường thủ công trong làng, còn nếp chọn loại dẻo, thơm ngon. Người ta thắng đường bát ra nước, lọc hết các tạp chất; nếp vo thật sạch, để ráo rồi đem xay mịn thành bột. Hai chất liệu ấy trộn với nhau theo tỷ lệ thích hợp, có pha thêm chút nước gừng để bánh có hương vị thơm hơn. Dùng một cái giỏ đan bằng tre (như cái rọ bịt mõm bò) miệng rộng hơn đáy, lót lá chuối chờ sẵn.

Đổ bột làm bánh vào giỏ, xong đưa vào nồi có lót một cái vỉ tre nhỏ gần với đáy nồi. Đổ nước vào nồi, cách chừng 5-6cm, chụm lửa cho sôi đều đến khi bánh chín. Khi vớt bánh ra rải ít hột mè lên mặt bánh cho đẹp rồi phơi nơi thoáng mát đến chừng bánh ráo trên mặt thì đem cất, dùng trong các ngày Tết; có thể xắt từng lát ăn ngay hoặc đem chiên giòn, kiểu nào cũng có cái thơm ngon riêng.

Bánh nổ

Bánh nổ

Bánh nổ

Đặc trưng của vùng nông nghiệp lúa nước, với thành phần gạo nếp là chủ yếu. Gạo nếp được rang lên cho nổ đều, hạt nở to, bung ra khỏi vỏ, bỏ những hạt nổ này vào cối đá (hoặc gỗ) giã cho mịn vừa phải. Thắng đường bát loại tốt, ngọt thanh, cho thêm ít gừng.

Lửa đun riu riu đến lúc đường kéo thành sợi là có thể ép bánh được. Đổ bột nổ vào đường trộn đều, rắc thêm một chút vani, rồi tất cả đưa vào khuôn, ép lại thành bánh. Khuôn để ép bánh phổ biến có hình chữ nhật, dài chừng 10 cm và rộng 6 cm, dày chừng 2-3 cm.

Bánh in

Bánh in

Bánh in

Làm bánh in cũng hết sức công phu. Nếp thơm, dẻo vuốt với nước sạch, vớt ra giữ độ ẩm thích hợp đến khi ráo nước. Dùng một cái trã (nay người ta dùng chảo) rang nếp cho chín, phồng lên, ngả màu vàng mật, thoảng mùi thơm của nếp là được. Cho nếp vào cối đá hoặc gỗ, giã mịn (bây giờ đã có máy xay bột vừa nhanh vừa tiện lợi). Bột mịn, khô xốp nên cần phải phơi một hoặc hai sương cho có độ ẩm thích hợp.

Kế đó, đường bát cũng được nạo thành bột mịn, trộn đều vào bột bánh. Để bột có thể in thành lát được, người ta dùng tay hoặc một đoạn gỗ nhồi thật kỹ, thật đều, cho tới đường - đến khi có thể nắm thành từng viên là được, lúc đó mới có thể cho bột  vào khuôn in được.

Nhẹ tay úp khuôn bánh lên nong, nia có lót giấy hoặc lá chuối cho sạch, để lấy bánh ra. Để bánh được cứng hơn, có thể phơi một nắng, hoặc dùng than củi nướng qua một lần, bánh sẽ cứng hơn và có mùi thơm hòa quyện của đường và nếp. Nay, phổ biến là bánh in có trộn thêm bột đậu xanh. Cũng có loại bánh in chỉ làm hoàn toàn bằng bột đậu xanh đã được rang chín xay mịn, trộn với đường đã thắng keo lại.

Ngoài bốn loại bánh trên, ở Quảng Nam - Đà Nẵng dịp Tết còn có vài loại bánh khác như bánh rò, bánh khô, bánh gừng...

Bánh rò

Bánh Tết xứ Quảng

Được làm trong các ngày kỵ giỗ, đám tiệc trong năm nên đến ngày Tết, nó chỉ xuất hiện vài chiếc trên bàn thờ tổ tiên, còn thì nhường chỗ cho một loại bánh anh em ruột: bánh tét.

Từ quê hương đồng bằng Bắc bộ, chiếc bánh chưng khi vào đến vùng Quảng Nam có thể đã trở thành chiếc bánh rò. Chất liệu hoàn toàn giống nhau, chỉ có khác thay vì hình dạng vuông vắn, bánh rò được gói thành hình tháp, mặt trên nhỏ hơn mặt dưới, mô phỏng các tháp của người Chăm!

Bánh khô

Bánh khô

Bánh khô

Rất phổ biến ở vùng Hòa Vang, Đà Nẵng. Về mặt hình thức, có hai loại: bánh mè và bánh nổ và đều được làm rất công phu. Một cái bánh khô ngon là khi bẻ đôi mà nổ hoặc mè không rơi rụng, xốp, giòn (do công đoạn nướng và độ ẩm thích hợp mà có).

Ở Quảng Nam, nếp ngon có ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn, còn ở Đà Nẵng có cánh đồng xã Hòa Liên thuộc huyện Hòa Vang trồng được loại nếp thơm. Nếp dẻo và thơm dùng gói bánh tét, làm bánh khô, bánh nổ, bánh in rất ngon. Nhưng nơi sinh thành của chiếc bánh khô lại là làng Quan Châu thuộc xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang (phía nam TP Đà Nẵng).

Bánh gừng

Bánh làm bằng bột nắn thành hình trông như củ gừng, đem chiên dầu cho phồng lên và có màu vàng như màu gừng. Người ta cắm những củ gừng ấy vào tăm tre nhỏ rồi đem đặt thành hình tháp chung quanh một cái lõi làm bằng thân cây chuối. Tất cả đặt trên chiếc mâm gỗ trông như một khối tháp, toàn khối như vậy gọi là "quả bánh gừng".

Bên cạnh bánh gừng còn có khối bánh thuẩn, bánh ngũ sắc, bánh quai vạc, bên cạnh lát bánh khô, bánh rò, bánh in còn có xôi đường. Tất cả đều góp phần tạo nên phong vị Tết Quảng Nam - Đà Nẵng thêm phong phú. Rất nhiều loại bánh tết xứ Quảng có thể dự trữ lâu, dễ mang xách. Mang theo vài đòn bánh tét, vài cái bánh tổ là có thể yên trí ngao du vài ngày xem hội đua ghe, hát bội đầu xuân. Ra giêng, đi làm ngoài đồng, ngoài bãi có thể mang theo ít bánh khô để "uống nước" nửa buổi, kéo dài hương vị ngày xuân...

 
Phong tục ngày tết PDF. In Email

Dân tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết Thương Nguyên, Trung  Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, TrungThu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm).

Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu niên cũng mua cho được cành hoa bánh pháo, nghèo cũng có chiếc bánh chưng, chai rượu. Vì vậy xin miễn liệt kê dài dòng, để trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.

Tống cựu nghênh tân: cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.

Nhiều gia đình nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không quấy khóc, không nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy, không vứt rác viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở dầu lạ dầu quen.

Đối với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều tốt lành.

Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi: ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên đến, đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người "Nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ "Lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "Nặng vía". Chính vì vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hoá ít khách, trừ những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính.

Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết nhưng người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm.

Quà Tết, lễ Tết: Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết  đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao hơn mâm cỗ".

Lễ mừng thọ: ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai nghề",   "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người  thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết  thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng.

Tóm lại, ngày Tết là ngày tiêu biểu cho truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Giá như phát huy thuần phong mỹ tục đó, từ gia đình ra xã hội, ai ai cũng đối xử với nhau trên thuận dưới hoà, kính giá yêu trẻ... thì đất nước quê hương sẽ tươi đẹp, giàu mạnh, bộ máy pháp luật bớt đi bao nhiêu khó khăn.

 
Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của tết nguyên đán PDF. In Email

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán, các bạn cùng lớp 9/7 tìm hiểu để biết được phong tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa của người Á Đông nói chúng và người Việt Nam nói riêng. Tết đến Xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì. Mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Bên cạnh đó là khao khát sự trường tồn cuộc sống, sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân, sự gắn kết trong cộng đồng, gia tộc và gia đình. Tết Nguyên đán còn là dịp để hướng về cội nguồn. Đó là giá trị tâm linh, cũng là giá trị tình cảm sâu sắc của người Việt, trở thành truyền thống tốt đẹp.

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán

Tết Nguyên Đán - hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết. “Tết” chính là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Tết Nguyên Đán được người Việt Nam gọi với cái tên rất thân thương “Tết Ta”, là để phân biệt với “Tết Tây” (Tết Dương lịch).

Tết Nguyên Đán được tính từ ngày nào?

Do cách tính lịch âm của người Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.

Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán

Nguồn gốc của Tết Nguyên Đán

Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hoa Trung Quốc trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, Tết Nguyên Đán cũng là một trong những nét văn hóa được du nhập trong thời điểm đó. Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.

Đến thời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày Mồng một cho đến hết ngày mồng Bảy.

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán

Ý nghĩa của Tết Nguyên Đán

Tết Nguyên Đán không chỉ thể hiện sự giao giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh trong quan niệm của người phương Đông. Mà thiêng liêng hơn cả đó chính là ngày đoàn viên của mọi gia đình. Mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán

Tết Nguyên đán với ý nghĩa sâu xa và mang tính thiêng, trang trọng là tiễn đưa năm cũ, chào đón, chúc tụng năm mới sức khỏe con người tốt hơn, sinh kế khá hơn, hạnh phúc cá nhân – gia đình bền vững hơn và khởi đầu từ ý thức hệ nông nghiệp, sau dần tỏa rộng trong đời sống con người toàn xã hội, song vẫn mang ý nghĩa nhân văn tốt đẹp.

Người Việt cho rằng, Tết Nguyên đán là cơ hội để thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” một cách sâu sắc, cụ thể nhất. Giá trị hướng về cội nguồn là giá trị tâm linh, cũng là giá trị tình cảm của người Việt với Tết Nguyên đán. Giá trị này đã trở thành nếp sống truyền thống tốt đẹp, bền vững.

Người ta tin rằng, vào dịp Tết Nguyên đán, tổ tiên cũng sẽ hiện diện trên bàn thờ gia tiên, ở nhà thờ họ để chứng kiến lòng thành của con cháu, và từ đó sẽ phù hộ cho con cháu được khỏe mạnh, làm ăn ổn định và sống hạnh phúc trong tình yêu thương giữa ông bà, cha mẹ, con cháu, vợ chồng. Đó là ý nghĩa tâm linh của Tết Nguyên đán.

Khi thắp nén hương, bày mâm cỗ cúng dâng tổ tiên trong dịp Tết Nguyên đán, người Việt mới thấy thỏa mãn và yên lòng trong cuộc sống tiếp theo khi bước vào năm mới.

Tết đến, người Việt chuẩn bị mọi điều kiện sống đầy đủ, có đạo đức, có truyền thống tốt. Chẳng hạn: ăn phải ngon, bổ dưỡng, khác hẳn ngày thường. Mặc phải đẹp, bất kể lứa tuổi nào, bất cứ giới nào: nam hay nữ, nông dân, thợ, kẻ sĩ hay chức sắc, lão bà hay lão ông.

Ai cũng thấy như phải gần gũi nhau hơn, nói những điều hay với ngôn ngữ chọn lọc. Chẳng hạn, Tết là phải chúc mừng nhau: sức khỏe, tuổi tác (trường thọ), chúc “làm ăn bằng năm, bằng mười năm ngoái”… Có phần ngoa ngôn, song vẫn êm tai và thực lòng. Cho nên, Tết đến, người ta vui vẻ, dịu hiền, là cơ hội để hòa giải những bất đồng, “giận đến chết đến Tết cũng thôi”.

Đó là giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ mà người Việt muốn đạt tới và thường đạt tới. Cho nên, những ngày trong dịp Tết Nguyên đán thực sự là những ngày vui vẻ, hạnh phúc cho tất cả mọi người.

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 1 trong tổng số 13

Bài thuyết minh về nghề điện

Bài thuyết minh về nghề điện BÀI THUYẾT MINH VỀ NGHỀ ĐIỆN I/ Tầm quan trọng của nghề điện: Điện năng là một trong những động lực chính để gia tăng sức sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, là huyết mạch của ... Đọc thêm...

KỈ NIỆM QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

KỈ NIỆM QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3 Ngày 7/3 trường THCS Lý Tự Trong tổ chức sinh hoạt  kỉ niệm 106 năm ngày quốc tế phụ nữ 8/3 dưới cờ rất ý nghĩa và thu hút sự tham gia nhiệt tình từ giáo viên và học sinh bằng các hoạt động... Đọc thêm...

Phong tục truyền thống ngày tết

Phong tục truyền thống ngày tết Trồng cây nêu đã trở thành tục lệ Tết phổ biến của các dân tộc Việt Nam: từ Kinh, Thái, Mường đến Ba Na, Gia Rai... CÂY NÊU NGÀY TẾT Trồng cây nêu đã trở thành tục lệ Tết phổ biến của các dân tộc Việ... Đọc thêm...

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của tết nguyên đán

Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của tết nguyên đán Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán, các bạn cùng lớp 9/7 tìm hiểu để biết được phong tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa của ngư... Đọc thêm...

Ý nghĩa ngày học sinh sinh viên

Ý nghĩa ngày học sinh sinh viên LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY HỌC SINH SINH VIÊN VIỆT NAM (9/1/1950 - 9/1/2015) Từ giữa năm 1949 đến đầu năm 1950 phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên chống chủ nghĩa thực dân Pháp xâm l... Đọc thêm...
More: